ĐỂ AI PHÁT HUY HIỆU QUẢ TRONG DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH
- Thứ sáu - 21/08/2026 15:57
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội đổi mới việc dạy và học tiếng Anh, từ hỗ trợ giáo viên thiết kế bài giảng đến cá nhân hóa quá trình học tập. Tuy nhiên, để AI thực sự phát huy hiệu quả, vấn đề không chỉ nằm ở việc đưa công nghệ vào lớp học mà còn ở cách lựa chọn, khai thác và sử dụng công cụ phù hợp với mục tiêu giáo dục.

Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là chủ trương lớn
Nhận diện những rào cản
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2422/QĐ-BGDĐT ngày 18-8-2026 ban hành Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông cho thấy AI đang từng bước trở thành nội dung cần được trang bị cho học sinh trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Khung nội dung không đặt trọng tâm vào việc học sinh phải thành thạo một công cụ hay biết cách viết câu lệnh cho AI mà hướng tới hình thành năng lực sử dụng AI một cách chủ động, sáng tạo và có trách nhiệm.
Đây cũng là những năng lực cần thiết trong dạy và học ngoại ngữ. Khi sử dụng AI để dịch, luyện phát âm, hội thoại, sửa bài viết hay tìm kiếm học liệu, học sinh không thể chỉ tiếp nhận câu trả lời do máy cung cấp mà cần biết kiểm tra độ chính xác, nhận diện những thông tin chưa phù hợp và chịu trách nhiệm với sản phẩm học tập của mình. Trong bối cảnh Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đang triển khai chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, AI mở ra thêm cơ hội để học sinh thực hành và sử dụng ngoại ngữ.
Theo PGS.TS Lưu Bích Ngọc, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển Nhân lực, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn thuần là tăng thời lượng học hay coi tiếng Anh như một môn học. Mục tiêu quan trọng hơn là hình thành năng lực giao tiếp, giúp người học có khả năng kết nối với thế giới và từng bước sử dụng tiếng Anh trong học tập, công việc.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành Giáo dục đang đứng trước nhiều thách thức, từ chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất đến sự đồng hành của phụ huynh và xã hội. PGS.TS.Lưu Bích Ngọc cho rằng, với khoảng 1,4 triệu giáo viên, việc tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực tiếng Anh trên diện rộng là bài toán không đơn giản. Trong khi đó, các trường công lập vẫn còn những hạn chế nhất định về nguồn lực đầu tư và khả năng đổi mới nhanh so với khối ngoài công lập. Ngoài ra, một điểm nghẽn khác nằm ở năng lực công nghệ hỗ trợ dạy và học tiếng Anh. Dù các nền tảng, phần mềm giáo dục phát triển nhanh, khoảng cách với thế giới vẫn còn đáng kể.
TS.Tô Hồng Nam, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhận định tiếng Anh là ngôn ngữ có tính quốc tế cao. Việt Nam đang tiếp cận ngày càng nhiều chương trình, nền tảng dạy học tiếng Anh do các tập đoàn công nghệ, giáo dục quốc tế phát triển. Điều này vừa mở ra cơ hội tiếp cận các công cụ hiện đại, vừa đặt ra sức ép đổi mới đối với doanh nghiệp, đơn vị phát triển công nghệ giáo dục trong nước. Đáng chú ý, sự phát triển nhanh của AI đang tạo thêm những thách thức mới, song cũng mở ra cơ hội thay đổi cách dạy và học tiếng Anh.
PGS.TS.Vũ Thị Thanh Nhã, Trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng sự xuất hiện của AI đang làm thay đổi mạnh mẽ phương pháp dạy và học tiếng Anh. Giáo dục đang bước vào một giai đoạn chưa có nhiều tiền lệ, khi AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình dạy và học. Giáo viên không chỉ sử dụng các công cụ có sẵn mà cần cùng người học thử nghiệm, điều chỉnh phương pháp, từ thiết kế bài giảng, xây dựng học liệu đến kiểm tra, đánh giá.
Cá nhân hóa việc học nhờ AI
Một trong những giá trị rõ nét nhất mà AI mang lại là khả năng cá nhân hóa việc học. Thay vì áp dụng một lộ trình chung cho cả lớp, các hệ thống học tập thích ứng có thể dựa trên kết quả thực tế để điều chỉnh nội dung, tốc độ và mức độ khó phù hợp với từng người học. Nhờ đó, học sinh có thể tập trung cải thiện những kỹ năng còn hạn chế, đồng thời phát huy những năng lực đã có.
Theo PGS.TS.Vũ Thị Thanh Nhã, hiện có rất nhiều công cụ AI hỗ trợ giáo viên. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở số lượng công cụ, mà ở khả năng lựa chọn và khai phù hợp. Người giáo viên phải là người đưa ra quyết định về công cụ, cách sử dụng và mục tiêu sử dụng, qua đó tạo ra giá trị mà AI không thể tự mình mang lại cho quá trình dạy học.
Cùng quan điểm, PGS.TS.Hồ Ngọc Trung, Trưởng khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Mở Hà Nội, cho biết AI đang trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả trong đào tạo tiếng Anh. Công nghệ này có thể giúp xây dựng lộ trình phù hợp với năng lực và nhu cầu của từng người học, cung cấp phản hồi tức thời, hỗ trợ phát hiện lỗi và gợi ý cách cải thiện kỹ năng ngay trong quá trình học. Đặc biệt, việc tiếp cận các nguồn học liệu và công cụ học tập trên nền tảng số cũng giúp mở rộng không gian học tập, không bị giới hạn bởi thời gian hay địa điểm.
Theo các chuyên gia giáo dục, cá nhân hóa bằng AI không đồng nghĩa với việc giao quá trình học tập cho máy móc. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi đặt trong một phương pháp sư phạm phù hợp, trong đó giáo viên giữ vai trò định hướng, kiểm soát chất lượng và hiểu rõ nhu cầu của người học.
Để AI thực sự trở thành trợ lực cho việc dạy và học tiếng Anh, các cơ sở giáo dục cần đồng thời hoàn thiện hạ tầng số, phát triển học liệu điện tử và xây dựng quy định cụ thể về việc sử dụng AI trong các Nhà trường. Cùng với đó là bồi dưỡng về năng lực số cho đội ngũ giáo viên, giúp đội ngũ giáo viên không chỉ biết sử dụng công cụ mà còn đủ năng lực lựa chọn, kiểm chứng và khai thác AI một cách có trách nhiệm, hiệu quả trong giảng dậy.
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2422/QĐ-BGDĐT ngày 18-8-2026 ban hành Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông cho thấy AI đang từng bước trở thành nội dung cần được trang bị cho học sinh trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Khung nội dung không đặt trọng tâm vào việc học sinh phải thành thạo một công cụ hay biết cách viết câu lệnh cho AI mà hướng tới hình thành năng lực sử dụng AI một cách chủ động, sáng tạo và có trách nhiệm.
Đây cũng là những năng lực cần thiết trong dạy và học ngoại ngữ. Khi sử dụng AI để dịch, luyện phát âm, hội thoại, sửa bài viết hay tìm kiếm học liệu, học sinh không thể chỉ tiếp nhận câu trả lời do máy cung cấp mà cần biết kiểm tra độ chính xác, nhận diện những thông tin chưa phù hợp và chịu trách nhiệm với sản phẩm học tập của mình. Trong bối cảnh Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đang triển khai chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, AI mở ra thêm cơ hội để học sinh thực hành và sử dụng ngoại ngữ.
Theo PGS.TS Lưu Bích Ngọc, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển Nhân lực, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn thuần là tăng thời lượng học hay coi tiếng Anh như một môn học. Mục tiêu quan trọng hơn là hình thành năng lực giao tiếp, giúp người học có khả năng kết nối với thế giới và từng bước sử dụng tiếng Anh trong học tập, công việc.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành Giáo dục đang đứng trước nhiều thách thức, từ chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất đến sự đồng hành của phụ huynh và xã hội. PGS.TS.Lưu Bích Ngọc cho rằng, với khoảng 1,4 triệu giáo viên, việc tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực tiếng Anh trên diện rộng là bài toán không đơn giản. Trong khi đó, các trường công lập vẫn còn những hạn chế nhất định về nguồn lực đầu tư và khả năng đổi mới nhanh so với khối ngoài công lập. Ngoài ra, một điểm nghẽn khác nằm ở năng lực công nghệ hỗ trợ dạy và học tiếng Anh. Dù các nền tảng, phần mềm giáo dục phát triển nhanh, khoảng cách với thế giới vẫn còn đáng kể.
TS.Tô Hồng Nam, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhận định tiếng Anh là ngôn ngữ có tính quốc tế cao. Việt Nam đang tiếp cận ngày càng nhiều chương trình, nền tảng dạy học tiếng Anh do các tập đoàn công nghệ, giáo dục quốc tế phát triển. Điều này vừa mở ra cơ hội tiếp cận các công cụ hiện đại, vừa đặt ra sức ép đổi mới đối với doanh nghiệp, đơn vị phát triển công nghệ giáo dục trong nước. Đáng chú ý, sự phát triển nhanh của AI đang tạo thêm những thách thức mới, song cũng mở ra cơ hội thay đổi cách dạy và học tiếng Anh.
PGS.TS.Vũ Thị Thanh Nhã, Trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng sự xuất hiện của AI đang làm thay đổi mạnh mẽ phương pháp dạy và học tiếng Anh. Giáo dục đang bước vào một giai đoạn chưa có nhiều tiền lệ, khi AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình dạy và học. Giáo viên không chỉ sử dụng các công cụ có sẵn mà cần cùng người học thử nghiệm, điều chỉnh phương pháp, từ thiết kế bài giảng, xây dựng học liệu đến kiểm tra, đánh giá.
Cá nhân hóa việc học nhờ AI
Một trong những giá trị rõ nét nhất mà AI mang lại là khả năng cá nhân hóa việc học. Thay vì áp dụng một lộ trình chung cho cả lớp, các hệ thống học tập thích ứng có thể dựa trên kết quả thực tế để điều chỉnh nội dung, tốc độ và mức độ khó phù hợp với từng người học. Nhờ đó, học sinh có thể tập trung cải thiện những kỹ năng còn hạn chế, đồng thời phát huy những năng lực đã có.
Theo PGS.TS.Vũ Thị Thanh Nhã, hiện có rất nhiều công cụ AI hỗ trợ giáo viên. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở số lượng công cụ, mà ở khả năng lựa chọn và khai phù hợp. Người giáo viên phải là người đưa ra quyết định về công cụ, cách sử dụng và mục tiêu sử dụng, qua đó tạo ra giá trị mà AI không thể tự mình mang lại cho quá trình dạy học.
Cùng quan điểm, PGS.TS.Hồ Ngọc Trung, Trưởng khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Mở Hà Nội, cho biết AI đang trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả trong đào tạo tiếng Anh. Công nghệ này có thể giúp xây dựng lộ trình phù hợp với năng lực và nhu cầu của từng người học, cung cấp phản hồi tức thời, hỗ trợ phát hiện lỗi và gợi ý cách cải thiện kỹ năng ngay trong quá trình học. Đặc biệt, việc tiếp cận các nguồn học liệu và công cụ học tập trên nền tảng số cũng giúp mở rộng không gian học tập, không bị giới hạn bởi thời gian hay địa điểm.
Theo các chuyên gia giáo dục, cá nhân hóa bằng AI không đồng nghĩa với việc giao quá trình học tập cho máy móc. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi đặt trong một phương pháp sư phạm phù hợp, trong đó giáo viên giữ vai trò định hướng, kiểm soát chất lượng và hiểu rõ nhu cầu của người học.
Để AI thực sự trở thành trợ lực cho việc dạy và học tiếng Anh, các cơ sở giáo dục cần đồng thời hoàn thiện hạ tầng số, phát triển học liệu điện tử và xây dựng quy định cụ thể về việc sử dụng AI trong các Nhà trường. Cùng với đó là bồi dưỡng về năng lực số cho đội ngũ giáo viên, giúp đội ngũ giáo viên không chỉ biết sử dụng công cụ mà còn đủ năng lực lựa chọn, kiểm chứng và khai thác AI một cách có trách nhiệm, hiệu quả trong giảng dậy.
Nguồn tin: THẢO NGUYÊN
Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://nukeviet.vn là vi phạm bản quyền